Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2013

Bác ái và quảng đại với tha nhân

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Khi Con Người đến trong vinh quang, có hết thảy mọi thiên thần hầu cận, Người sẽ ngự trên ngai uy linh của Người. Muôn dân sẽ được tập họp lại trước mặt Người, và Người sẽ phân chia họ ra, như mục tử tách chiên ra khỏi dê. Chiên thì Người cho đứng bên phải, còn dê ở bên trái. Bấy giờ Vua sẽ phán với những người bên hữu rằng: 'Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm; Ta bị tù đày, các ngươi đã đến với Ta'. Khi ấy người lành đáp lại rằng: 'Lạy Chúa, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ chúng con thấy Chúa là lữ khách mà tiếp rước, mình trần mà cho mặc; có khi nào chúng con thấy Chúa yếu đau hay bị tù đày mà chúng con đến viếng Chúa đâu?' Vua đáp lại: 'Quả thật, Ta bảo các ngươi: Những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta'.
"Rồi Người cũng sẽ nói với những kẻ bên trái rằng: 'Hỡi phường bị chúc dữ, hãy lui khỏi mặt Ta mà vào lửa muôn đời đã đốt sẵn cho ma quỷ và kẻ theo chúng. Vì xưa Ta đói, các ngươi không cho ăn; Ta khát, các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi chẳng tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi không cho đồ mặc; Ta đau yếu và ở tù, các ngươi đâu có viếng thăm Ta!' Bấy giờ họ cũng đáp lại rằng: 'Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói khát, khách lạ hay mình trần, yếu đau hay ở tù, mà chúng con chẳng giúp đỡ Chúa đâu?' Khi ấy Người đáp lại: 'Quả thật, Ta bảo cho các ngươi biết, những gì các ngươi đã không làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta'. Những kẻ ấy sẽ phải tống vào chốn cực hình muôn thuở, còn các người lành thì được vào cõi sống ngàn thu".
Suy niệm:
A. Phân tích (Hạt giống...)
Bài đọc I trích sách Lêvi dạy cách đối xử với tha nhân, gồm trong hai điều chính:
a/ Công bình: đừng trộm cắp, đừng nói dối, đừng phỉnh gạt, đừng nhục mạ, đừng hà hiếp, đừng giam tiền công phải trả cho thợ, đừng nguyền rủa, đừng gièm pha...
b/ Bác ái: “Hãy yêu thương bạn hữu như chính mình”. Nhìn chung, ta thấy lời dạy của Cựu Ước có tính tiêu cực (“đừng, đừng và đừng…”), và chưa được rộng (“Hãy yêu thương bạn hữu như chính mình”)
Lời dạy của Chúa Giêsu tích cực hơn (cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới áo mặc, thăm viếng kẻ đau yếu và ngồi tù), và cũng rộng rãi hơn (hãy đối xử bác ái với bất cứ ai bé mọn). Chúa con bảo Ngài sẽ coi những việc bác ái ta làm cho những kẻ bé mọn như làm cho chính Chúa.
B. Suy gẫm (... nẩy mầm)
1. Coi tha nhân là chính Chúa. Điều này tương đối dễ nếu ta gặp một người tốt và dễ thương. Còn khi ta gặp một người khó chịu và xấu tính, ta hãy nhớ:
a/ Người đó cũng là tác phẩm do Chúa tạo nên.
b/ Người đó cũng là giá máu Chúa đã đổ ra để cứu chuộc.
c/ Người đó cũng là đối tượng Chúa mời hưởng hạnh phúc muôn đời.
Bởi thế nếu không thề yêu thương người đó vì chính người đó thì ít ra hãy phấn đấu yêu thương họ như chính Chúa yêu thương họ.
2. Bà Chiara Lubich, người sáng lập phong trào Focolare chủ trương sống tinh thần Phúc Âm, chia sẻ một kinh nghiệm sống như sau: coi những kẻ đang đau khổ là hình ảnh Chúa Giêsu đang bị bỏ rơi trên Thánh Giá. Cũng như Chúa Giêsu bị bỏ rơi rất cần người ủi an giúp đỡ, ta cũng hãy giúp đỡ ủi an những kẻ đau khổ ấy.
3. Từ khi chọn con đường nhập thể, Chúa đã muốn chúng ta tìm Ngài trong tha nhân, yêu Ngài qua tha nhân và giúp đỡ Ngài cũng qua tha nhân.
4. Một đêm trăng nọ, nhìn qua cửa sổ, một tu sĩ già bỗng nhìn thấy một thiên thần đang ngồi viết trên một cuốn sách vàng. Lòng tràn ngập hân hoan, vị tu sĩ rón rén đến gần và lên tiếng hỏi:
- Ngài đang viết gì trong quyển sách này thế?
- Ta đang ghi danh những ai yêu mến Thiên Chúa.
Vừa lo lắng vừa hồi hộp, vị tu sĩ mới hỏi xem tên mình có trong sách không. Thiên thần giở từng trang, chăm chú đọc từng hàng nhưng không thấy tên ông. Thế nhưng điều đó không làm vị tu sĩ thất vọng. Ông nói với thiên thần:
- Xin Ngài vui lòng ghi tên tôi như một thầy dòng lúc nào cũng yêu mến tha nhân.
Thiên thần chiều ý ông. Thế là tên ông được ghi vào sổ vàng.
Sau khi vị tu sĩ già qua đời, xem lại nhật ký của ông, người ta thấy dòng chữ đầu tiên trong nhật ký chính là câu trích dẫn thư 1 Ga 4, 20 “Nếu ai nói mình yêu mến Chúa mà lại ghét anh em mình thì đó là kẻ nói dối, vì kẻ không yêu mến người anh em nó thấy đó tất không thể yêu mến Thiên Chúa mà nó không thấy”. Tiếp theo lời trích dẫn vị tu sĩ ghi chú: “Tôi đi tìm kiếm linh hồn tôi, nhưng tôi không thấy; tôi đi tìm Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vượt thoát khỏi tôi; tôi đi tìm người anh em, tôi đã gặp được Thiên Chúa và linh hồn tôi” (Trích "Mỗi ngày một tin vui").
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Chúng con thật hạnh phúc vì được mang hình ảnh của Chúa. Chúng con được nhận ra Chúa qua tha nhân, qua bạn bè. Chúa còn đồng hoá mình với những người bất hạnh để chúng con có cơ hội phục vụ Chúa. Xin Chúa Giêsu Thánh Thể nâng đỡ và giúp chúng con biết sống tình bác ái quảng đại với tha nhân.
Lạy Chúa Giêsu mến yêu, cuộc đời Chúa luôn sống vì tha nhân. Chúa đã cho đi tình yêu. Chúa đã cho đi cả cuộc đời, cả mạng sống mình cho người mình yêu. Chúa đã chịu nhiều đắng cay thiệt thòi để người mình yêu được hạnh phúc. Xin giúp chúng con cũng biết làm vui lòng nhau, biết quan tâm tới nhau, biết sống phục vụ cho nhau. Ở gia đình biết vâng lời thảo hiếu cha mẹ, biết chia sẻ gánh nặng với cha mẹ qua những công việc tầm thường nhất như là: rửa chén, quét nhà. Ở nhà trường chúng con biết sống hoà nhã, thân thiện và sẵn lòng giúp đỡ mọi người. Xin giúp chúng con biết học nơi Chúa, biết cho đi hơn là nhận lãnh.
Lạy Chúa là tình yêu, xin khơi lên trong chúng con tình yêu của Chúa, để chúng con biết yêu tha nhân như chính mình. Xin loại bỏ nơi chúng con sự ích kỷ để biết sống quảng đại cho lợi ích tha nhân. Amen.

Thứ Bảy, 16 tháng 2, 2013

Vào Sa Mạc

Khi ấy, Chúa Giêsu được đầy Thánh Thần, liền rời vùng sông Giođan và được Thánh Thần đưa vào hoang địa ở đó suốt bốn mươi ngày, và chịu ma quỷ cám dỗ. Trong những ngày ấy, Người không ăn gì và sau thời gian đó, Người đói. Vì thế, ma quỷ đến thưa Người: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy truyền cho đá này biến thành bánh đi". Chúa Giêsu đáp: "Có lời chép rằng: Người ta không phải chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn bằng lời Chúa nữa". Rồi ma quỷ lại đem Người lên cao hơn cho xem ngay một lúc tất cả các nước thiên hạ và nói với Người rằng: "Tôi sẽ cho ông hết thảy quyền hành và vinh quang của các nước này, vì tất cả đó là của tôi và tôi muốn cho ai tuỳ ý. Vậy nếu ông sấp mình thờ lạy tôi, thì mọi sự ấy sẽ thuộc về ông!" Nhưng Chúa Giêsu đáp lại: "Có lời chép rằng: Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi và chỉ phụng thờ một mình Người thôi".
Rồi ma quỷ lại đưa Người lên Giêrusalem, để Người trên góc tường cao đền thờ và bảo rằng: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy gieo mình xuống, vì có lời chép rằng: "Chúa sẽ truyền cho Thiên Thần gìn giữ ông!" Và còn thêm rằng: "Các vị đó sẽ giơ tay nâng đỡ ông khỏi vấp phải đá". Chúa Giêsu đáp lại: "Có lời chép rằng: Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi!" Sau khi làm đủ cách cám dỗ, ma quỷ rút lui để chờ dịp khác.
Suy niệm: 
SỢI CHỈ ĐỎ:
1. Bài đọc I (Đnl 26,4-10): Thiên Chúa đã yêu thương giải thoát dân Israel khỏi kiếp nô lệ Ai cập và đưa họ vào Đất Hứa.
2. Đáp ca (Tv 90): Bài học rút ra từ lịch sử ấy: ai nương tựa vào Thiên Chúa thì sẽ được Ngài che chở an toàn trong mọi tình huống.
3. Phúc Âm (Lc 4,1-13): Chúa Giêsu thực hiện bài học ấy: Vì biết nương tựa vào Thiên Chúa nên Ngài đã chiến thắng các cơn cám dỗ.
4. Bài đọc II (Rm 10,8-13): Thánh Phaolô dạy tín hữu Rôma sống bài học đó: "Hễ ai tin vào Người sẽ không phải hổ thẹn… Vì mọi kẻ cầu khẩn Danh Ngài, đều được cứu rỗi".
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến
Ai trong chúng ta cũng đều gặp những lúc gian nan khổ sở. Những lúc ấy chúng ta bị cám dỗ bỏ Chúa để tìm những nơi nương tựa khác. Ngày xưa dân Israel và chính Chúa Giêsu cũng bị cám dỗ như vậy. Nhưng Israel thì đã sa ngã, còn Chúa Giêsu thì chiến thắng cám dỗ. Tại sao?
Lời Chúa hôm nay sẽ cho chúng ta lời giải đáp.
Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy cầu xin Chúa giúp chúng ta đừng noi gương dân Israel xưa, nhưng biết noi gương Chúa Giêsu.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúng ta cứ sa đi ngã lại mãi trong tội. Phải chăng vì chúng ta chưa thực lòng sám hối? Xin Chúa thương xót chúng con…
- Chúng ta có biết rằng phạm tội là để mình bị trói buộc trong xiềng xích của Satan không? Xin Chúa Kitô thương xót chúng con…
- Chúng ta có ý thức rằng phạm tội là phụ bạc với tình yêu của Chúa Giêsu, Đấng đã chịu chết vì tội chúng ta không? Xin Chúa thương xót chúng con…
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I: Đnl 26,4-10
Môsê dạy cho dân Do Thái biết phải có tâm tình gì khi họ dâng của đầu mùa lên Thiên Chúa: đó là tâm tình biết ơn.
Nhìn lại lịch sử, ban đầu tổ tiên họ chỉ là những kẻ phiêu bạt tứ cố vô thân sống nhờ đất Ai cập, làm nô lệ rất khổ sở cho dân Ai cập; Chúa đã thương giải thoát họ khỏi kiếp nô lệ ấy và đưa họ vào Đất hứa, một mảnh đất chảy sữa và mật, nhờ đó mà họ mới có cuộc sống sung túc. Vì thế, hàng năm họ phải biết ơn Ngài và lấy một phần hoa lợi của mình dâng lên Ngài.
2. Đáp ca: Tv 90
Đây là bài ca biểu lộ lòng cậy trông phó thác vào Thiên Chúa: Những ai biết nương tựa Đấng Tối Cao thì sẽ được Ngài che chở an toàn trong mọi tình huống.
3. Phúc Âm: Lc 4,1-13
Thánh Luca trình bày Chúa Giêsu như dân Israel mới. Vì thế, muốn hiểu hết ý đoạn Phúc Âm này, chúng ta phải nhớ lại giai đoạn Israel ở trong sa mạc (và như thế, đoạn Phúc Âm được coi như nối tiếp bài đọc I): sau khi dân Israel được Thiên Chúa cứu khỏi kiếp nô lệ Ai cập, họ đã đi trong sa mạc trong một thời gian dài và đã gặp nhiều cám dỗ:
- Cám dỗ trở lại Ai cập để có bánh ăn.
- Cám dỗ thờ tượng con bê vàng.
- Cám dỗ thử thách Thiên Chúa.
Vì không nhớ tình thương của Chúa (như Bài đọc I khuyên) và không biết phó thác nơi Thiên Chúa, họ đã sa ngã trong tất cả các cám dỗ ấy.
Chúa Giêsu chính là Israel mới: Ngài cũng sống trong sa mạc một thời gian dài (40 ngày), cũng bị những loại cám dỗ như dân Israel ngày xưa, nhưng Ngài đã chiến thắng tất cả. Đó là nhờ Ngài luôn tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa.
4. Bài đọc II: Rm 10,8-13 (chủ đề phụ, bổ nghĩa)
Thánh Phaolô lặp lại điều mà Tv 90 (Đáp ca) tuyên xưng: "Hễ ai tin vào Người sẽ không phải hổ thẹn… Vì mọi kẻ cầu khẩn Danh Ngài, đều được cứu rỗi".
IV. GỢI Ý GIẢNG
1. Định hướng Mùa Chay
Thời trước người ta sống Mùa Chay rất nhiệm nhặt: ăn chay kiêng thịt tất cả mọi ngày Thứ Sáu, hy sinh hãm mình rất nhiều trong suốt "mùa chay cả", từ bỏ tất cả mọi cuộc vui chơi v.v. Thời nay, hầu hết những điều trên đã được huỷ bỏ hoặc giảm nhẹ tới mức tối thiểu. Phải chăng Giáo Hội đang suy đồi?
Thực ra, căn bản vấn đề là ý thức. Nếu không ý thức ý nghĩa sâu xa thì cho dù tuân thủ rất nhiều hình thức nhiệm nhặt bên ngoài thì cũng vô ích. Các bài đọc hôm nay giúp chúng ta ý thức về ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống người tín hữu:
- Ý thức rằng tất cả mọi sự chúng ta đang hưởng đều là do Chúa ban, như lời Môsê nói với dân Israel trong bài đọc I "Chúa đưa chúng con đến đây, ban cho chúng con xứ này, một xứ chảy sữa và mật. Và vì thế, lạy Chúa, giờ đây con dâng tiến Chúa những của đầu mùa, hoa màu ruộng đất mà Chúa đã ban cho con".
- Ý thức về sự che chở hữu hiệu của Thiên Chúa đối với những ai biết tin tưởng nương tựa vào Ngài. (Đáp ca: "Vì người quý mến Ta, Ta sẽ giải thoát cho, Ta sẽ che chở người bởi lẽ người nhìn biết danh Ta.")
- Ý thức rằng điều quan trọng nhất trong đời không phải là cơm bánh mà là Lời Chúa (Bài Phúc Âm)
Nếu chúng ta thực sự ý thức những điều trên thì chúng ta sẽ không ngại thực hiện những việc ăn chay, kiêng thịt, hy sinh hãm mình, cầu nguyện và chiến đấu với các cám dỗ.
2. Những cám dỗ trong đời
Chuyện dân Israel bị cám dỗ 40 năm và chuyện Chúa Giêsu chịu cám dỗ 40 ngày xem ra chỉ là chuyện đời xưa, chẳng liên can gì đến chúng ta ngày nay. Thực ra ngày nay chúng ta cũng gặp những cám dỗ ấy, nhưng dưới những hình thức khác thôi:
- Phải chăng chúng ta cũng bận tâm quá đáng đến việc ăn uống, sinh nhai?
- Phải chăng chúng ta rất ham vinh hoa địa vị ở đời?
- Phải chăng chúng ta không nỗ lực với hết khả năng mình mà cứ đòi Thiên Chúa làm phép lạ giúp mình?
3. Vào sa mạc
Vào sa mạc là việc cần thiết đầu tiên phải làm trong Mùa Chay. Bởi đó bài Phúc Âm Chúa Nhật I Mùa Chay năm nào cũng nói về việc Chúa Giêsu vào sa mạc (Năm A: Mc; B: Mt; C: Lc).
a/ Ý nghĩa của sa mạc
- Sa mạc là nơi hoang vắng và tĩnh lặng.
- Hoang vắng và tĩnh lặng thì buồn và chán. Tuy nhiên hoang vắng và tĩnh lặng lại sinh ra nhiều hiệu quả tốt:
- Cảm nghiệm của những người đã từng ở sa mạc: thấy vũ trụ bao la và đẹp tuyệt vời (nhất là những lúc mặt trời mọc và lặn); thấy được quyền năng Thiên Chúa; thấy được con người thực của mình; cũng cảm được tình đồng loại tha thiết (rất hiếu khách khi thỉnh thoảng tình cờ gặp được một người giữa sa mạc)
- Bởi thế Thiên Chúa thích đưa người ta vào sa mạc: Bài đọc I: Thiên Chúa để cho dân Do Thái ở sa mạc 40 năm sa mạc để họ cảm nghiệm tình thương của Ngài, đồng thời để thử thách xem họ có trung thành với tình thương ấy hay không; Bài Phúc Âm: Chúa Giêsu vào sa mạc 40 ngày để cầu nguyện và cũng chịu thử thách.
b/ Trong Mùa Chay chúng ta cũng vào sa mạc. Nhưng vào sa mạc để làm gì?
- Mùa chay, một thời gian cầu nguyện: Theo bố cục của Phúc Âm Luca, trước khi đi rao giảng, Chúa Giêsu đã vào ở trong sa mạc và lưu lại đó 40 đêm ngày. Để làm chi? Không phải chỉ để ăn chay, mà còn làm một việc quan trọng hơn nhiều, đó là cầu nguyện xem Ngài sẽ thi hành sứ mạng Messia như thế nào.
Ngày nay chúng ta cũng có 40 ngày Mùa Chay, để noi gương Chúa Giêsu mà cầu nguyện.
Thực ra chúng ta phải cầu nguyện luôn. Nhưng thỉnh thoảng cần có một thời gian để cầu nguyện chuyên cần và sốt sắng hơn. Đó chính là thời gian này.
- Mùa Chay, một thời gian chiến đấu: Chúa Giêsu sống trong sa mạc 40 ngày chiến đấu với những cơn cám dỗ của Satan.
Thực ra ma quỷ luôn cám dỗ chúng ta (1 Pr 5,8: "Ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mối để cắn xé"). Bình thường chúng ta không để ý cho nên dễ bị sa cám dỗ. Trong Mùa Chay, chúng ta hãy noi gương Chúa Giêsu, tích cực chiến đấu với những khuynh hướng xấu, những thói quen tội lỗi và những cám dỗ.
4. Cú nhẩy ngoạn mục
Vua nước Thục có tính tham lam. Vua Huệ Vương nước Tần muốn xâm chiếm nước Thục nhưng vì khe núi hiểm trở, không thể đem quân sang đánh. Huệ Vương sai lấy đá tạc hình con trâu để gần địa giới nước Thục, mỗi ngày bỏ vàng sau đuôi con trâu và phao tin đồn rằng: "Trâu đãi ra vàng".
Tiếng đồn ấy đến tai vua Thục. Ông liền sai xẻ núi lấp khe và cho năm người lực sĩ vào rừng kéo con trâu về.
Huệ Vương sẵn lối đi, đem quân tiến đến cướp được nước Thục. Vua Thục vừa mất nước, vừa hại cả mình, để lại trò cười cho thiên hạ. Thế chẳng phải là tham chút lợi nhỏ mà để thiệt mất cái lợi to ư?
Vua Thục vì tham vàng mà mất nước, và số vàng kia cũng lọt vào tay quân thù. Thiên hạ cười chê ông dại khờ. Nhưng thật ra thì ai cũng đã hơn một lần khờ dại như ông. Ai cũng đã không ít lần bị cám dỗ giống ông, nếu không phải là vàng thì cũng là của cải, sắc dục, danh vọng, quyền uy.
Bị cám dỗ là thân phận của con người. Chúa Giêsu đã từng bị cám dỗ, vì Người muốn chia sẻ trọn vẹn kiếp người, Người muốn nên đồng số phận với con người, và Người đã thắng cơn cám dỗ để nêu gương cho con người.
Cám dỗ thứ nhất là cám dỗ về cái đói. Cơn cám dỗ về Manna (Xh 16) mà dân Chúa đã bị thử thách trong hoang địa: Đó cũng là thử thách từng ngày của mỗi người chúng ta. Nếu chúng ta chỉ tìm thoả mãn những khao khát của thể xác, những nỗi thèm thuồng vật chất đang cào cấu trong ta, thì chúng ta đã thất bại ngay trong cơn cám dỗ đầu tiên."Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh" (Lc 4,4). Vâng, con người còn có những giá trị cao quí khác cần phát huy, đừng hạ thấp mình xuống mức độ sơ đẳng nhất của: cơm, áo, gạo, tiền.
Cám dỗ thứ hai là cám dỗ về quyền hành thế gian. Cám dỗ thờ ngẫu tượng, bò vàng (Xh 32,42) của dân Ítraen nơi hoang địa. Không chỉ hôm nay mà rất nhiều lần trong cuộc đời, Đức Gìêsu đã bị cám dỗ này tấn công. Dân chúng luôn kéo Người vào cơn cám dỗ trở nên một Đấng Cứu Thế mang tính chính trị, một vị vua trần gian đầy quyền lực vinh quang. Nhưng Người đã nhất mực khước từ. Người muốn trở nên "tôi tớ" của Thiên Chúa (Ga 13,1-20). Cơn cám dỗ về quyền hành cũng là cơn cám dỗ của tất cả mọi người. Ai trong chúng ta cũng muốn thống trị kẻ khác, muốn áp đặt ý kiến của mình trên anh em.
Đây cũng là cơn cám dỗ về sự nghi ngờ Thiên Chúa. Vì Người thường hay vắng mặt, nên chúng ta dễ chạy theo những vị thần giả hiệu, chúng có tên là của cải, sắc đẹp, kiến thức, tài năng... Chúa Giêsu nhắc cho chúng ta lời Kinh Thánh: "Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người" (Lc 4,8).
Cám dỗ thứ ba là cám dỗ đòi kiểm chứng, đòi xem những dấu lạ điềm thiêng (Xh 17), đòi thấy những cú nhảy đẹp mắt, những pha ngoạn mục: Đó là cơn cám dỗ trên nóc đền thờ Giêrusalem. Cũng chính nơi đây, Chúa Giêsu sẽ chịu một cơn thử thách hết sức nặng nề: đó là cơn cám dỗ muốn thoát cái chết. "Nếu có thể được xin tha cho con khỏi uống chén này" (Lc 22,42). Dường như Chúa Cha "đã bỏ rơi" Người. Cuối cùng thì Chúa Giêsu đã không dùng quyền năng của mình để trốn tránh thân phận con người phải chết. Người đã từ chối nhảy một cú đẹp mắt, cũng không xuống khỏi thập giá một cách ngoạn mục. Người tin tưởng vào tình yêu của Cha, Người tuyệt đối trung thành và trọn vẹn vâng theo ý Cha.
Chúa Giêsu đã chiến đấu với các cơn cám dỗ và Người đã hoàn toàn chiến thắng, để nêu gương cho chúng ta trong những cơn thử thách. Cám dỗ nào cũng ngọt ngào hấp dẫn, thử thách nào cũng đòi phải chọn lựa. Điều quan trọng là chúng ta có nhận ra cái đắng đót chua cay trong cái vỏ ngọt ngào hấp dẫn đó không! Chúng ta có dám chọn theo Chúa hơn là theo ma quỉ? Chọn yêu anh em hơn là yêu chính mình? Chọn điều thiện hơn là cái ác?
5. Cám dỗ của Chúa Giêsu và của chúng ta
Một cuốn phim đã gây xôn xao dư luận một thời, nhất là vào năm 1989, đó là phim "Cơn cám dỗ cuối cùng của Chúa" (The last temptation of Christ, phỏng theo quyển tiểu thuyết cùng tên, của nhà văn Hy lạp Nikos Kazantzakis). Cuốn phim (và quyển tiểu thuyết) mô tả lúc Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thánh giá. Ngài đã ngất đi và thấy mình rời khỏi thánh giá, rời bỏ sứ mạng cứu thế để sống một cuộc sống bình thường. Ngài đi tìm lại nàng Mađalêna, cưới nàng làm vợ. Sau đó lại tìm đến với hai chị em Matta và Maria ở làng Bêtania và cũng cưới luôn hai chị em này làm vợ. Ngài có rất nhiều con và sống rất hạnh phúc…
Báo chí và các đài phát thanh đưa tin rằng khi cuốn phim được trình bày chiếu lần đấu, những người có đạo đã đập phá rạp chiếu bóng tan tành, đến nỗi lần chiếu sau phải chiếu ở một rạp đặc biệt cô lập bởi chung quanh toàn là nước để khỏi bị đập phá lần nữa. Nếu tác giả mà viết như thế về Hồi giáo thì chắc chắn ông cũng sẽ bị mang cùng một số phận với Salman Ruside, người đã bị giáo chủ Hồi giáo Khômêni kêu gọi tất cả mọi tín đồ Hồi giáo trên khắp thế giới hễ gặp mặt tác giả là có bổn phận phải giết ngay, lý do là Salman Rusdie đã viết một quyển sách có những điều bị cho là xúc phạm đến Hồi giáo, quyển sách mang tựa đề "Những vần thơ ác quỷ" (the satanic verses).
Thực ra, nếu chúng ta được đọc quyển "Cám dỗ cuối cùng của Chúa" của Nikos Kazantzakis, thì chúng ta sẽ thấy chẳng có gì xúc phạm cả. Tuy tác giả có nói Chúa Giêsu rời thập giá và cưới 3 người vợ, có nhiều con, nhưng đó chỉ là một cơn cám dỗ của Chúa thôi. Cuối cùng Chúa đã lắc đầu không theo cám dỗ đó. Ngài tỉnh dậy vẫn thấy mình đang bị treo trên thánh giá, và Ngài hô lên một tiếng kêu chiến thắng "Thế là đã hoàn tất", rồi Ngài tắt thở. Trong đoạn mở đầu, Nikos Kazantzakis cũng nói rõ quan điểm của ông khi viết quyển truyện này: Ông tin Chúa Giêsu vừa là Chúa vừa là người, và ông muốn nhìn Ngài dưới khía cạnh người. Ông muốn tưởng tượng những cám dỗ và những chiến đấu vô cùng ác liệt mà con người Giêsu đã phải đương đầu, và đã anh dũng chiến thắng như thế nào, để càng thấy rõ Chúa Giêsu là mẫu mực cho con người chúng ta hơn, để càng cảm phục Ngài hơn, và để con người chúng ta can đảm hơn trong khi chiến đấu với những cơn cám dỗ của chúng ta. Ông đã tâm sự rằng "Trong khi viết… tôi đã cảm động đến phát khóc. Tôi chưa bao giờ cảm thấy máu của Chúa rơi từng giọt vào tim tôi với sự ngọt ngào như vậy, với nỗi đớn đau như vậy".
Chúa Giêsu cũng là người như chúng ta. Mà hễ là người thì phải có tự do. Mà tự do nghĩa là có quyền lựa chọn. Mà đã nói lựa chọn thì tức là có thể chọn đúng và có thể chọn sai. Chính ở kẻ hở này mà cám dỗ len vào, nó xúi giục ta bỏ cái tốt để chọn cái xấu. Ai mà chọn cái xấu tức là sa ngã đầu hàng cám dỗ, còn ai vẫn cương quyết chọn cái tốt tức là kẻ chiến thắng, khi đó cám dỗ chẳng những không làm hại gì được người đó mà càng làm cho người đó thêm công nghiệp.
Chúa chịu cám dỗ vì chúng ta: Trước hết, Ngài chịu cám dỗ để nhắc chúng ta nhớ rằng chung quanh chúng ta và chính trong bản thân chúng ta luôn đầy dẫy cám dỗ, vì thế chúng ta cần phải đề cao cảnh giác; Thứ hai, Chúa chịu cám dỗ và đã chiến thắng cám dỗ để làm gương cho chúng ta noi theo khi chúng ta phải đương đầu với những cám dỗ của chúng ta: Cũng như Chúa Giêsu, chúng ta chỉ có thể thắng được cám dỗ nếu chúng ta không cậy dựa vào sự khôn ngoan của chúng ta, mà biết cậy dựa vào sự khôn ngoan của Lời Chúa; chúng ta chỉ thắng cám dỗ nếu chúng ta không chìu theo ý muốn riêng của mình mà luôn tìm làm theo ý muốn của Thiên Chúa.
6. Biết mình
Một Rabbi nổi tiếng kia muốn tìm hiểu tâm tư con người nên làm một thí nghiệm như sau. Ông gọi ba người tình cờ đi ngang qua và đặt cho họ một câu hỏi: "Giả như bạn lượm được một túi đầy vàng thì bạn sẽ làm sao?"
Người thứ nhất đáp: "Tôi sẽ trả lại cho người đánh rơi nó". Vị Rabbi nhận định: "Đồ ngốc!"
Người thứ hai đáp: "Tôi sẽ giữ lấy mà xài. Dại gì mà không xài của quý từ trời rơi xuống như thế". Rabbi kết: "Đồ khùng!".
Người thứ ba: "Tôi cũng chẳng biết tôi sẽ làm sao nữa, bởi vì nếu khi đó tôi không chống lại nổi cám dỗ của ma quỷ trong tôi thì sao? Tuy nhiên nếu khi đó có ơn Chúa khuyến khích thì tôi sẽ trả lại túi vàng cho người đánh mất". Rabbi khen: "Tuyệt lắm. Bạn mới thật là người khôn ngoan".
Tại sao vị Rabbi nói người thứ nhất là ngốc? Vì người này hoàn toàn không biết chính mình khi tưởng rằng mình đủ vững mạnh chiến thắng cám dỗ tham tiền. Chẳng ai đủ mạnh để không bị sa ngã bao giờ. Người ta khôngsa ngã vì người ta yếu đâu, mà sa ngã vì mình yếu mà tưởng mình mạnh.
Tại sao vị Rabbi nói người thứ hai là khùng? Vì người này chẳng cần biết đến lương tâm gì cả, vừa thấy tiền là không chút áy náy tính chiếm đoạt luôn. Đối với hạng người như thế, cám dỗ không phải là một mối nguy mà là một cơ hội để tìm tư lợi trên chính sự thiệt thòi của người khác.
Và tại sao vị Rabbi khen người thứ ba là khôn ngoan thật? Vì người này biết mình. Anh biết mình cũng yếu đuối như mọi người khác. Anh hy vọng mình sẽ chiến thắng cám dỗ tham lam. Nhưng anh ý thức rằng điều này sẽ rất khó nếu không được ơn Chúa giúp. (FM)
7. Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh
Chắc nhiều người trong chúng ta, nhất là các người trẻ, biết tên Chàng Ca Sĩ nổi tiếng thế giới Elvis Presley.
Chàng rất giàu: một mình có 8 chiếc xe hơi, 6 xe gắn máy, 2 máy bay, 16 máy truyền hình, một ngôi biệt thự rất rộng và nhiều tài khoản ngân hàng. Trên tất cả những thứ đó, chàng còn có, còn có biết bao đạo quân những người hâm mộ coi chàng là thần tượng.
Thế nhưng Elvis Presley không cảm thấy hạnh phúc. Có lần chàng thú nhận: "Càng nhiều tiền thì càng nhức đầu". Mẹ chàng thì không mong gì hơn là con trai mình có giờ về thăm gia đình. Nhưng mong ước đơn giản như thế mà cũng không được.
Elvis Presley là một bằng chứng cho lời Chúa Giêsu nói: "Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh".
Cầu nguyện: 
Lạy Chúa, chúng con sẽ trưởng thành hơn sau mỗi lần chiến thắng, sẽ kinh nghiệm nhiều hơn sau mỗi cơn thử thách. Nhưng xin Chúa đừng để chúng con thất vọng sau mỗi lần vấp ngã, đừng bao giờ để chúng con bỏ cuộc sau những lần thất bại.
Xin cho chúng con luôn tin tưởng chỗi dậy tiếp tục chiến đấu cho dù phải hy minh mạng sống, vì chính Chúa Giêsu đã sẵn lòng chịu chết để trung tín với Chúa Cha.
Xin ban thêm sức mạnh để chúng con chiến thắng các cơn cám dỗ nhờ ăn chay và cầu nguyện. Amen.

Thứ Ba, 12 tháng 2, 2013

Thứ Tư Lễ Tro: Đấng thấu suốt mọi bí ẩn

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Các con hãy cẩn thận, đừng phô trương công đức trước mặt người ta để thiên hạ trông thấy, bằng không các con mất công phúc nơi Cha các con là Đấng ở trên trời. Vậy khi các con bố thí, thì đừng thổi loa báo trước, như bọn giả hình làm ở nơi hội đường và phố xá, để cho người ta ca tụng họ. Quả thật, Ta bảo các con, họ đã được thưởng công rồi. Các con có bố thí, thì làm sao đừng để tay trái biết việc tay phải làm, để việc con bố thí được giữ kín và Cha con, Đấng thấu suốt mọi bí ẩn, sẽ trả công cho con.
"Rồi khi các con cầu nguyện, thì cũng chớ làm như những kẻ giả hình: họ ưa đứng cầu nguyện giữa hội đường và các ngả đàng, để thiên hạ trông thấy. Quả thật, Ta bảo các con rằng: họ đã được thưởng công rồi. Còn con khi cầu nguyện, thì hãy vào phòng đóng cửa lại mà cầu xin với Cha con, Đấng ngự nơi bí ẩn, và Cha con, Đấng thấu suốt mọi bí ẩn, sẽ trả công cho con.
"Khi các con ăn chay, thì đừng làm như bọn giả hình thiểu não: họ làm cho mặt mũi ủ dột, để có vẻ ăn chay trước mặt người ta. Quả thật, Ta bảo các con, họ đã được thưởng công rồi. Còn con khi ăn chay, hãy xức dầu thơm trên đầu và rửa mặt, để thiên hạ không biết con ăn chay, nhưng chỉ tỏ ra cho Cha con, Đấng ngự nơi bí ẩn, và Cha con thấu suốt mọi bí ẩn, sẽ trả công cho con".
Suy niệm:
A. Phân tích (Hạt giống...)
Bài trích Phúc Âm này, Chúa Giêsu dạy về 3 việc đạo đức tiêu biểu mà người do thái thường làm, đó là bố thí, cầu nguyện và ăn chay. Qua 3 việc tiêu biểu này, chúng ta có thể hiểu về tất cả những việc đạo đức khác.
1. Khi làm, đừng quá chú trọng đến vẻ bề ngoài của những việc đó (“thổi loa báo trước”, “ở nơi hội đường và các ngả đàng”, “giả hình thiểu não”)
2. Đừng làm để được người ta ca tụng (“để cho người ta ca tụng họ”, “để thiên hạ trông thấy”, “để có vẻ ăn chay trước mặt người ta”)
3. Mà hãy làm cách giữ kín (giữ kín: không có nghĩa là dấu diếm người ta, mà là không có ý khoe khoang) nhưng và chỉ cốt làm vui lòng Cha trên trời.
B. Suy gẫm (... nẩy mầm)
1. Trong Mùa Chay, chẳng những ta gia tăng những việc đạo đức (phương diện lượng) mà còn phải lưu ý làm những việc đó với tâm tình sốt sắng hơn (phương diện phẩm).
2. Một việc đạo đức đang đi vào quên lãng, đó là Bố Thí. Giá trị của việc bố thí:
a/ “Đồng tiền liền khúc ruột”, do đó bố thí có giá trị hy sinh lớn.
b/ Bố thí giúp ta bớt dính bén tiền bạc.
c/ Bố thí còn là một cách đền tội: Sách Tôbia nói “Việc bố thí thanh tẩy khỏi mọi tội lỗi” (Tb 12,8-9).
3. Rượu chè
Khi ông Nôe trồng nho, Satan lấy làm lạ nên tiến lại gần hỏi:
- Ông đang trồng cây gì thế?
- Cây nho.
- Nó có lợi gì không?
- Có chứ. Trái nó vừa đẹp mắt, vừa ngon miệng. Từ trái nho ta còn có thể làm ra rượu giúp lòng người hưng phấn nữa.
- Vậy thì để tôi giúp ông.
Satan mới giết một con chiên, một con sư tử, một con lừa và một con heo. Lấy máu của chúng tưới gốc cây nho. Thế là cây nho lớn nhanh. Noe lấy trái nho làm rượu.
Từ đó trở đi khi người ta uống một chút rượu vào thì sẽ vui vẻ dễ thương như con chiên; uống thêm chút nữa thì mạnh bạo như sư tử; Nếu chưa ngưng mà còn uống thêm thì sẽ ngu như lừa; nếu lại uống nữa thì... hoàn toàn như con heo vậy. (Truyện cổ Nước Pháp).
4. Chỗ ở của chuột
Có một con chuột sống trong một ngôi nhà thờ cũ kỹ ở miền quê. Một hôm nó đi lang thang dạo mát bỗng gặp một con chuột khác cũng đang đi chơi. Nó liền được dịp tâm sự: “Tôi sống chui rúc dưới gầm một tòa giải tội. Nhưng chẳng được yên thân vì hầu như lúc nào cũng có người xưng tội, phá giấc ngủ của tôi.” Nghe thế, con chuột kia nói: “Vậy bạn hãy dọn đến chỗ ở của tôi. Chỗ ấy ấm áp sạch sẽ mà chẳng mấy khi có người quấy rầy, yên tĩnh lắm. “Ô thế bạn ở đâu vậy?” “Tôi ở trong thùng tiền cứu giúp người nghèo.” (Trích "Món quà giáng sinh")
5. “Cha con, Đấng thấu suốt mọi bí ẩn, sẽ trả công cho con.” (Mt 6,4)
- Bố ơi, sao Thứ Tư Lễ tro một vài năm trước không ăn chay kiêng thịt?
- Thứ Tư Lễ tro một vài năm trước đúng mồng Ba Tết. Cho nên Thứ Sáu mồng Năm ta sẽ ăn chay kiêng thịt bù lại.
- Nhưng bên Tây người ta ăn tết chỉ có ngày mồng một thôi.
- Nhưng chúng ta là người Việt. Vả lại cứ cho con là giữ được, nhưng còn những người khác?
Những lời đó làm tôi suy nghĩ nhiều. Và tôi thấy Hội Thánh thật dễ thương, thật đẹp. Trước đây có khi tôi thấy luật lệ Hội Thánh sao khắt khe quá. Tôi nghĩ Hội Thánh không khác gì ông bố già khó tính độc đoán. Nhưng nay tôi thấy rõ Hội Thánh là người mẹ hiền lo lắng mọi thứ cho con cái. Hội Thánh lo cho tôi hơn chính tôi. Tôi cảm thấy tin tưởng ở luật lệ Hội Thánh hơn, dù có nhiều điều chưa hiểu. Hội Thánh là người mẹ âu yếm tôi, nhưng cũng là người thầy dẫn dắt tôi. Thực ra Chúa mới là người lo liệu quan phòng tất cả.
Lạy Đấng thấu suốt những gì kín đáo, xin cho con luôn ý thức chân lý này và cố gắng sống, để việc sám hối và canh tân của con phù hợp với tinh thần Phúc Âm. Xin cho con có tâm hồn biết lắng nghe, để đôi tay con biết phục vụ như Đức Kitô làu của Hội Thánh. (Epphata)
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Chúa là sự sống trường sinh. Chúa đã từng hứa ban cho chúng con sự sống trường sinh. "Ai ăn bánh này sẽ không chết bao giờ". Chúng con xin Chúa thương ngự đến tâm hồn chúng con. Một tâm hồn còn mang nhiều bụi trần, còn lắm thương tích do yếu đuối, lỗi lâm gây ra. Xin chữa lành tâm hồn chúng con. Xin tái tạo tâm hồn chúng con nên trong sạch, tinh tuyền để sức sống của Chúa luôn ở lại với chúng con.
Lạy Chúa, dẫu biết rằng kiếp người thật mong manh. Ðời tựa như "bóng câu qua cửa sổ", hay gió thoảng mây bay "một cơn gió thoảng của đủ làm nó biến đi". Nhưng Chúa ơi! Sao chúng con vẫn cứ bám víu vào trần gian. Con bám vào tiền tài, danh vọng, thú vui trần thế mà lãng quên tình Chúa. Tâm hồn chúng con mang bao vết nhơ lầm lỡ của thói hư tật xấu và những đam mê bất chính. Xin Chúa giúp chúng con biết lắng nghe tiếng Chúa và thành tâm quay trở về với Chúa qua việc thống hối, ăn năn trong mùa Chay Thánh. Xin cho chúng tôi biết tuân giữ và thi hành những điều Chúa chỉ dạy, hầu cho chúng con được hưởng nhờ ơn Cứu Chuộc đời đời. Xin cho chúng con giữ đức bác ái với tha nhân, dẹp bỏ lòng hận thù, xa tránh những đam mê dục tình và các chước cám dỗ thường phơi bày trong cuộc sống chúng con.
Xin Chúa nhân từ phù giúp, che chở, nâng đỡ chúng con có đủ sức lướt thắng ba thù là ma qủy, thế gian, xác thịt. Chúng con trông cậy vào lượng từ bi Chúa như lời Chúa phán: "Ta muốn lòng chân thành chứ không muốn của lễ, vì Ta đến để kêu gọi những người có lòng ăn năn sám hối". Xin Chúa đổi mới tâm hồn và canh tân con người, để chúng con nên một thụ tạo mới giữa cuộc sống hôm nay. Amen.

Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2013

Làm chứng cho sự thật

Khi ấy, vua Hêrôđê nghe nói về Chúa Giêsu, vì danh tiếng Người đã lẫy lừng, kẻ thì nói: "Gioan Tẩy giả đã từ cõi chết sống lại, nên ông đã làm những việc lạ lùng"; kẻ thì bảo: "Đó là Êlia"; kẻ khác lại rằng: "Đó là một tiên tri như những tiên tri khác". Nghe vậy, Hêrôđê nói: "Đó chính là Gioan trẫm đã chặt đầu, nay sống lại". Vì chính vua Hêrôđê đã sai bắt Gioan và giam ông trong ngục, nguyên do tại Hêrôđia, vợ của Philipphê anh vua mà vua đã cưới lấy. Vì Gioan đã bảo Hêrôđê: "Nhà vua không được phép chiếm lấy vợ anh mình". Phần Hêrôđia, nàng toan mưu và muốn giết ông, nhưng không thể làm gì được, vì Hêrôđê kính nể Gioan, biết ông là người chính trực và thánh thiện, và giữ ông lại. Nghe ông nói, vua rất phân vân, nhưng lại vui lòng nghe. Dịp thuận tiện xảy đến vào ngày sinh nhật Hêrôđê, khi vua thết tiệc các quan đại thần trong triều, các sĩ quan và những người vị vọng xứ Galilêa. Khi con gái nàng Hêrôđia tiến vào nhảy múa, làm đẹp lòng Hêrôđê và các quan khách, thì vua liền nói với thiếu nữ ấy rằng: "Con muối gì, cứ xin, trẫm sẽ cho", và vua thề rằng: "Con xin bất cứ điều gì, dù là nửa nước, trẫm cũng cho". Cô ra hỏi mẹ: "Con nên xin gì?" Mẹ cô đáp: "Xin đầu Gioan Tẩy Giả". Cô liền vội vàng trở vào xin vua: "Con muốn đức vua ban ngay cho con cái đầu Gioan Tẩy Giả đặt trên đĩa". Vua buồn lắm, nhưng vì lời thề và vì có các quan khách, nên không muốn làm cho thiếu nữ đó buồn. Và lập tức, vua sai một thị vệ đi lấy đầu Gioan và đặt trên đĩa. Viên thị vệ liền đi vào ngục chặt đầu Gioan, và đặt trên đĩa trao cho thiếu nữ, và thiếu nữ đem cho mẹ. Nghe tin ấy, các môn đệ Gioan đến lấy xác ông và mai táng trong mồ.
Suy niệm:
A. Phân tích (Hạt giống...)
Câu chuyện về cái chết của Gioan tẩy giả gồm 4 nhân vật với những đặc điểm tâm lý khác nhau:
- Hêrôđê là một người không có lập trường: một đàng kính trọng Gioan nhưng đàng khác khi bị Gioan vạch tội thì căm thù Gioan; khi nghe Gioan giảng thì ông thích, nhưng khi nghe bà Hêrôđia xúi bậy thì lại bắt Gioan tống ngục; lúc thì hứa sẽ cho cô con gái của Bà Hêrôđia bất cứ điều gì nó xin, nhưng khi nó xin cái đầu của Gioan thì ông lại buồn, nhưng không dám từ chối…
- Bà Hêrôđia: một người đàn bà chạy theo đam mê bằng mọi giá bất chấp thủ đoạn: phụ tình với chồng cũ, giết Gioan…
- Con gái bà Hêrôđia (nàng Salômê): không biết dùng nhan sắc và tài năng vào việc tốt, lại dùng chúng để làm tội…
- Gioan tẩy giả: một ngôn sứ chính danh. Ngôn sứ là sứ giả của Lời Chúa, can đảm nói Lời Chúa cho dù phải tù tội và phải chết.
B. Suy gẫm (... nẩy mầm)
1. Những dư luận về Chúa Giêsu rất khác nhau: Gioan tẩy giả sống lại, Êlia, một ngôn sứ… Ngày nay cũng có nhiều dư luận về Chúa Giêsu, trong đó có những dư luận không tốt. Tôi phải làm gì để cho người ta hiểu đúng về Ngài?
2. Tên “Giêsu” nghĩa là “Chúa Cứu rỗi”, hay nói theo ngôn ngữ thông dụng, Ngài là Đấng “cứu nhân độ thế”. Người ta không quan tâm lắm đến những danh hiệu khác của Ngài (Con Thiên Chúa, Kitô Messia, Con Vua Đavít v.v...). Nếu Ngài là đấng “cứu nhân độ thế” thì ai cũng thấy cần đến Ngài bởi vì ai cũng có điều cần Ngài cứu giúp, hoặc vật chất hoặc tinh thần. Nhưng làm sao cho người ta không chỉ biết mà còn thấy rõ Ngài là Đấng cứu nhân độ thế? Giáo Hội và các môn đệ Ngài phải cho người ta thấy điều đó qua cách sống và những việc làm của mình.
3. Suy nghĩ về tính thiếu cương quyết của Hêrôđê: nếu thấy một điều gì đó là đúng thì phải cương quyết làm; nếu thấy một điều gì đó sai thì cũng phải cương quyết bỏ; không chần chứ, không rút lại điều đã quyết định.
4. Suy nghĩ về những đam mê của bà Hêrôđia: đam mê là một động lực rất mạnh nhưng cũng là một con dao hai lưỡi. Nếu đam mê một điều tốt thì người ta sẽ làm được những kỳ công; nếu đam mê một điều xấu thì tai hại rất lớn…
5. Xem câu chuyện của nàng Salômê, tôi phải xin Chúa giúp tôi biết xử dụng những khả năng Chúa ban cho đúng.
6. Suy gẫm gương thánh Gioan tẩy giả: tôi có can đảm nói và sống Lời Chúa bất chấp mọi khó khăn, mất mát không?
7. Một học sinh Nhật là Kitô hữu duy nhất trong ngôi trường có 150 học sinh. Trước mỗi bữa ăn, em thường mạnh dạn làm dấu thánh giá và đọc kinh. Các học sinh đến tố cáo với thầy giáo là em có “hành vi ma thuật”. Nghe thấy thế, thầy cho gọi em lên đứng giữa lớp, hỏi xem em đã làm gì em thẳng thắn nói rằng em chỉ cám ơn Chúa đã ban lương thực hằng ngày. Nghe vậy, thầy giáo gục xuống bàn, nước mắt ràn rụa nói : “Này con, ta cũng là Kitô hữu, nhưng ta không can đảm tỏ ra cho mọi người biết. Giờ thì cám ơn Chúa, ta đã biết là Kitô hữu, mình phải làm gì.” (Góp nhặt)
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Chúa đã đến trần gian để làm chứng cho sự thật. Chúa biết rằng sự thật sẽ giải thoát chúng con khỏi cái chết muôn đời. Chúa cho chúng con biết sự thật của chúng con là con cái của Chúa. Chúa tạo dựng chúng con để được sống hạnh phúc đời đời bên Chúa. Xin cho chúng con biết đón nhận sự thật với niềm tin sắt son. Xin giúp chúng con biết sống theo chân lý vẹn toàn là sống đúng với phẩm giá làm người và làm con cái Chúa.
Nhưng Chúa ơi, đã bao lần chúng con đã không sống với lương tri con người. Chúng con sống quanh co, giả dối. Chúng con sống thiếu công bình, bác ái. Chúng con còn chưa dám sống với những điều mình tin. Chúng con còn sợ hy sinh, ngại gian khó khi phải sống theo lời Chúa. Xin Chúa tha thứ cho chúng con. Xin giúp chúng con luôn can đảm sống điều mình tin, cho dù phải trả giá bằng cả mạng sống như thánh Gioan năm xưa. Xin giúp chúng con dám sống chân thật và dám làm chứng cho sự thật. Xin ban ơn can đảm để chúng con biết sống theo lương tâm soi sáng, biết tránh xa sự xấu, và biết gìn giữ vẻ đẹp của linh hồn chúng con là hình ảnh của Chúa luôn trong trắng, tinh tuyền.
Lạy Chúa, Chúa là Ðấng chân thật. Xin giúp chúng con luôn can đảm làm chứng cho sự thật. Xin cho chúng con lòng trung thành tuyệt đối để có thể nói như thánh Phao-lô: "không có gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến Chúa trong Chúa Giêsu Kitô". Amen.

Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013

Những người đồng hương khinh thường

Khi ấy, Chúa Giêsu trở về quê nhà và các môn đệ cùng theo Người. Đến ngày Sabbat, Người vào giảng trong hội đường, và nhiều thính giả sửng sốt về giáo lý của Người, nên nói rằng: "Bởi đâu ông này được như vậy? Sao ông được khôn ngoan như vậy? Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy? Ông này chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao? Chị em ông không ở với chúng ta đây sao?" Và họ vấp phạm vì Người. Chúa Giêsu liền bảo họ: "Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình". Ở đó Người không làm được phép lạ nào, ngoại trừ đặt tay chữa vài bệnh nhân, và Người ngạc nhiên vì họ cứng lòng tin. Người đi rảo qua các làng chung quanh và giảng dạy.
Suy niệm:
A. Phân tích (Hạt giống...)
Thánh Marcô đã từng cho thấy thái độ không tin nơi những người bà con của Chúa Giêsu (x. Mc 3,20-21: họ nói Ngài mất trí và muốn bắt người về quê; Mc 3,31: Họ ngăn cản Ngài rao giảng). Trong đoạn này, Mc ghi nhận thêm thái độ không tin của những người cùng làng với Ngài.
Lý do không tin là thành kiến ‘Bụt nhà không thiêng’: “Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Gioxê và Simon sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?” (câu 3).
Hậu quả của thái độ không tin: “Ngài đã không làm được phép lạ nào tại đó; Ngài chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ” (câu 5).
B. Suy gẫm (... nẩy mầm)
1. Ta dễ ngưỡng mộ tài năng và đức độ của những “người dưng” và coi thường những “người nhà”. Thánh Gioan Tiền hô nói với dân do thái “Có một vị ở giữa các ông mà các ông không biết” (Ga 1,26). Trong nếp sống cộng đoàn, thái độ này không có tác dụng khuyến khích và tôn trọng nhau.
2. “Gần chùa gọi bụt bằng anh”. Phải chăng vì Chúa quá gần và quá dễ dãi với ta nên ta coi thường Chúa?
3. Tin vào một Chúa Giêsu đang làm những phép lạ hiển hách ở Capharnaum thì dễ hơn là tin vào một Chúa Giêsu là bác thợ mộc, là anh chị em ta. Bài Phúc Âm hôm nay khuyến khích ta làm điều thứ hai, tức là tin vào Chúa Giêsu trong đời thường, trong công việc, trong anh chị em...
4. Một bề trên tu viện công giáo đến tìm một ẩn sĩ ấn giáo tại chân núi Hy Mã Lạp Sơn và trình bày về tình trạng bi đát của tu viện ông: Trước kia tu viện này là một trung tâm thu hút nhiều khách hành hương. Nhà thờ lúc nào cũng vang tiếng hát của giáo dân từ khắp nơi đến. Trong tu viện không còn chỗ nhận thêm người vào tu hàng ngày đến gõ cửa nữa. Thế mà bây giờ tu viện chẳng khác nào một ngôi chùa hoang phế. Nhà thờ vắng lặng, tu sĩ thì leo teo mấy người, cuộc sống thật là buồn tẻ. Vị bề trên hỏi tu sĩ ấn giáo cho biết nguyên nhân nào hay lỗi lầm nào đã đưa tu viện tới tình trạng trên đây. Tu sĩ ấn giáo ôn tồn bảo: “Các tội đã và đang xảy ra trong cộng đoàn đó là tội vô tình.” Và ông giải thích: “Đấng Cứu Thế đã cải trang thành một người trong quý vị, nhưng quý vị không nhận ra Ngài.”
Nhận được lời giải đáp, vị bề trên hớn hở trở về tu viện. Ông tập họp mọi người lại và loan báo cho họ biết Đấng Cứu Thế đang cải trang thành một người trong nhà. Các tu sĩ đều mở to đôi mắt và quan sát nhau. Ai là Đấng Cứu Thế cải trang vậy? Nhưng có điều chắc là một khi Ngài đã cải trang thì không ai có thể nhận ra Ngài được. Mỗi người trong họ đều có thể là Đấng Cứu Thế.
Vậy là từ đó mọi người đều đối xử với nhau như với Đấng Cứu Thế. Chẳng bao lâu, bầu khí yêu thương huynh đệ, sức sống và niềm vui đã trở lại với tu viện. Từ khắp nơi người ta lại tìm đến tu viện để tĩnh tâm và cầu nguyện. Nhiều người trẻ cũng đến xin gia nhập cộng đoàn. (Trích ”Món quà giáng sinh”)
5. “Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình” (Mc 6,4)
Ra trường với mảnh bằng sư phạm trong tay, tôi được cử dạy tại một ngôi trường gần nhà. Tôi rất sung sướng vì khỏi phải đi xa. Tôi đã cố gắng vận dụng mọi kiến thức và khả năng để giảng dạy cho các em, và điều đó làm cho tôi rất vui.
Một ngày kia, tình cờ tôi nghe thấy các em nói với nhau: “Ổng ở gần nhà tao đó. Mày có biết không, hồi nhỏ ổng dốt lắm. Anh tao nói môn toán ổng “xơi ngỗng” hoài!”.
Từ ngày đó, tôi phải chấp nhận những ánh mắt nghi ngờ, những dấu chấm hỏi làm nhức nhối con tim. Dù sao tôi vẫn không thể thoái nhiệm hay dễ dàng rời xa lý tưởng của mình.
Xin giúp con theo Chúa đến cùng trên con đường yêu thương và phục vụ, dù có bị rẻ rúng giữa những người mà con đã hết lòng yêu thương và phục vụ. (Epphata)
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Chúa yêu thương chúng con nên Chúa đã nhập thể cứu đời. Chúa hòa mình giữa dòng đời như bao phận người. Chúa trở nên một con người giống như chúng con ngoại trừ tội lỗi. Chúng con cám ơn Chúa đã mặc lấy thân phận con người để nâng chúng con lên làm con Thiên Chúa. Xin Chúa giúp chúng con biết gìn giữ phẩm giá làm con cái Thiên Chúa qua đời sống thánh thiện của mình.
Lạy Chúa Giêsu mến yêu, thói đời thường "gần chùa gọi Bụt bằng anh". Con người thường đánh giá nhau theo định kiến có sẵn trong đầu. Ðôi khi còn bị ác cảm, yên trí về địa vị, gia tộc và quá khứ của một người, khiến chúng con đánh giá sai lệch và nông cạn về nhau. Thực tế là vậy, khi chúng con đã không có cái nhìn khách quan sẽ dẫn đến những nhận định bất công và thiếu trung thực. Vì "Yêu ai thì nói quá ưa - Ghét ai nói thiếu nói thừa như không". Xin giúp chúng con biết nhìn nhận nhau là anh em con một Cha trên trời. Xin giúp chúng con đối xử với nhau như đối xử với chính Chúa đã mang lấy thân phận con người. Xin cho chúng con luôn tôn trọng lẫn nhau và đối xử công bằng với nhau. Xin loại trừ nơi chúng con những cái nhìn thiển cận, nông cạn và thiếu bác ái với nhau.
Lạy Chúa, Chúa đã yêu thương và yêu thương cho đến cùng. Cho dù có bị xem thường, phản bội hay loại trừ. Xin giúp chúng con biết theo Chúa trên con đường phục vụ, cho dù có bị khinh khi giữa những người mà chúng con đang phục vụ. Amen.

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2013

Nhận ra phép lạ mỗi ngày

Hỡi em bé, Ta bảo em hãy chỗi dậy".
Khi ấy, Chúa Giêsu đã xuống thuyền trở về bờ bên kia, có đám đông dân chúng tụ họp quanh Người, và lúc đó Người đang ở bờ biển. Bỗng có một ông trưởng hội đường tên là Giairô đến. Trông thấy Người, ông sụp lạy và van xin rằng: "Con gái tôi đang hấp hối, xin Ngài đến đặt tay trên nó để nó được khỏi và được sống". Chúa Giêsu ra đi với ông ấy, và đám đông dân chúng cũng đi theo chen lấn Người tứ phía.
Vậy có một người đàn bà bị bệnh xuất huyết đã mười hai năm. Bà đã chịu cực khổ, tìm thầy chạy thuốc, tiêu hết tiền của mà không thuyên giảm, trái lại bệnh càng tệ hơn. Khi bà nghe nói về Chúa Giêsu, bà đi lẫn trong đám đông đến phía sau Người, chạm đến áo Người, vì bà tự nhủ: "Miễn sao tôi chạm tới áo Người thì tôi sẽ được lành". Lập tức, huyết cầm lại và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. Ngay lúc ấy, Chúa Giêsu nhận biết có sức mạnh đã xuất phát tự mình, Người liền quay lại đám đông mà hỏi: "Ai đã chạm đến áo Ta?" Các môn đệ thưa Người rằng: "Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy tứ phía, vậy mà Thầy còn hỏi "Ai chạm đến Ta?" Nhưng Người cứ nhìn quanh để tìm xem kẻ đã làm điều đó. Bấy giờ người đàn bà run sợ, vì biết rõ sự thể đã xảy ra nơi mình, liền đến sụp lạy Người và thú nhận với Người tất cả sự thật. Người bảo bà: "Hỡi con, đức tin con đã chữa con, hãy về bình an và được khỏi bệnh".
Người còn đang nói, thì người nhà đến nói với ông trưởng hội đường rằng: "Con gái ông chết rồi, còn phiền Thầy làm chi nữa?" Nhưng Chúa Giêsu đã thoáng nghe lời họ vừa nói, nên Người bảo ông trưởng hội đường rằng: "Ông đừng sợ, hãy cứ tin". Và Người không cho ai đi theo, trừ Phêrô, Giacôbê và Gioan, em Giacôbê. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Và Chúa Giêsu thấy người ta khóc lóc kêu la ồn ào, Người bước vào và bảo họ: "Sao ồn ào và khóc lóc thế? Con bé không chết đâu, nó đang ngủ đó". Họ liền chế diễu Người. Nhưng Người đuổi họ ra ngoài hết, chỉ đem theo cha mẹ đứa bé và những môn đệ đã theo Người vào chỗ đứa bé nằm. Và Người cầm tay đứa nhỏ nói rằng: "Talitha, Koumi!", nghĩa là: "Hỡi em bé, Ta truyền cho em hãy chỗi dậy!" Tức thì em bé đứng dậy và đi được ngay, vì em đã được mười hai tuổi. Họ sửng sốt kinh ngạc. Nhưng Người cấm ngặt họ đừng cho ai biết việc ấy, và bảo họ cho em bé ăn.
Suy Niệm:
Nhận ra phép lạ mỗi ngày
Ngày 17/9/1961, máy bay chở ông Ðavít Hamacon, Tổng thư ký Liên hiệp quốc, đã ngộ nạn trên không phận nước Congo, Phi Châu. Ông Hamacon không chỉ là người hoạt động cho hòa bình và là một nhà chính trị lỗi lạc, ông còn là một nhà tu đức có chiều sâu. Sau khi ông qua đời, tại căn phòng của ông ở Nữu Ước, người ta đã tìm được tập tài liệu đánh máy, ghi lại những suy tư và cầu nguyện hằng ngày của ông. Trong tập tài liệu này người ta đọc thấy những dòng như sau: "Thiên Chúa sẽ không chết, ngày mà chúng ta không còn tin ở thần linh nào nữa. Nhưng chính chúng ta sẽ chết, ngày nào cuộc sống của chúng ta không còn thấm nhập bởi ánh sáng của phép lạ không ngừng xảy ra, phép lạ mà lý trí chúng ta không biết từ đâu tới".
Cái chết mà ông Ðavít Hamacon nói trên đây chính là cái chết của tinh thần con người. Khi tinh thần con người không còn vượt qua khỏi chính mình để đi vào chiêm niệm, nghĩa là đi vào thế giới ở bên ngoài khả năng nắm bắt của lý trí, thì đó là lúc nó trở nên cằn cỗi và chết dần chết mòn.
Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta đi vào thế giới ấy, thế giới của những câu hỏi "tại sao", mà lý trí con người không thể lý giải được. Phép lạ một người đàn bà bị băng huyết được chữa lành nhờ chỉ chạm đến áo của Chúa Giêsu, và phép lạ một em bé gái chết được Chúa Giêsu cho sống lại; cả hai phép lạ đều phát xuất từ lòng tin của con người. Ông trưởng hội đường đã biểu lộ lòng tin bằng cách lặn lội tìm đến với Chúa Giêsu xin Ngài tới đặt tay trên con gái của ông; người đàn bà băng huyết tin một cách mãnh liệt nơi sức mạnh phát xuất từ con người Chúa Giêsu. Nơi ông trưởng hội đường, lòng tin được tuyên xưng tỏ tường; nơi người đàn bà băng huyết, niềm tin rụt rè kín đáo. Nhưng dù tỏ tường hay kín đáo, chính lòng tin đã giúp cho phép lạ xảy ra, như Chúa Giêsu đã nói với người đàn bà: "Lòng tin của con đã cứu chữa con".
Niềm tin làm cho con người được sống, điều này vẫn thường xảy ra trong đời sống con người. Tất cả những thành công trong cuộc sống đều nhờ ở niềm tin, nhưng niềm tin tôn giáo thì quan trọng hơn, bởi vì chính sự sống tinh thần và tâm linh mới là điều cần thiết cho con người đạt được thành công. Có tất cả, nhưng thiếu đời sống tâm linh, con người vẫn như sống dở. Sống sung mãn, sống dồi dào, chính là sống nội tâm. Chỉ có một đời sống nội tâm sung mãn mới giúp con người thấy được, cảm nhận được những gì mà giác quan và lý trí không thể đạt được.
Cuộc sống vốn là một phép lạ, từng hơi thở con người là một phép lạ, mỗi ngày là một phép lạ, mỗi phút giây là một phép lạ. Chỉ có đôi mắt nội tâm mới cho con người cảm nhận được phép lạ triền miên ấy. Sống đích thực, sống dồi dào, là biết chiêm ngưỡng để đón nhận phép lạ từng ngày ấy.
Nguyện xin Chúa ban cho cuộc sống chúng ta luôn được thấm nhập bởi ánh sáng của phép lạ triền miên ấy.

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013

Uy quyền trên quỷ dữ

Khi ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ sang bờ biển bên kia, đến địa hạt Giêrasa. Chúa Giêsu vừa ở thuyền lên, thì một người bị quỷ ô uế ám từ các mồ mả ra gặp Người. Người đó vẫn ở trong các mồ mả mà không ai có thể trói nổi, dù dùng cả đến dây xích, vì nhiều lần người ta đã trói anh ta, gông cùm xiềng xích lại, nhưng anh ta đã bẻ gãy xiềng xích, phá gông cùm, và không ai có thể trị nổi anh ta. Suốt ngày đêm anh ta ở trong mồ mả và trong núi, kêu la và lấy đá rạch mình mẩy.  Thấy Chúa Giêsu ở đàng xa, anh ta chạy đến sụp lạy Người và kêu lớn tiếng rằng: "Hỡi ông Giêsu, Con Thiên Chúa Tối Cao, ông với tôi có liên hệ gì đâu? Vì danh Thiên Chúa, tôi van ông, xin chớ hành hạ tôi". Nhưng Chúa Giêsu bảo nó rằng: "Hỡi thần ô uế, hãy ra khỏi người này". Và Người hỏi nó: "Tên ngươi là gì?" Nó thưa: "Tên tôi là cơ binh, vì chúng tôi đông lắm". Và nó nài xin Người đừng trục xuất nó ra khỏi miền ấy.
Gần đó, có một đàn heo đông đảo đang ăn trên núi, những thần ô uế liền xin Chúa Giêsu rằng: "Hãy cho chúng tôi đến nhập vào đàn heo".  Và Chúa Giêsu liền cho phép. Các thần ô uế liền xuất ra và nhập vào đàn heo, rồi cả đàn chừng hai ngàn con lao mình xuống biển và chết đuối. Những kẻ chăn heo chạy trốn và loan tin đó trong thành phố và các trại. Người ta liền đến xem việc gì vừa xảy ra. Họ tới bên Chúa Giêsu, nhìn thấy kẻ trước kia bị quỷ ám ngồi đó, mặc quần áo và trí khôn tỉnh táo, và họ kinh hoảng. Những người đã được chứng kiến thuật lại cho họ nghe mọi sự đã xảy ra như thế nào đối với người bị quỷ ám và đàn heo. Họ liền xin Chúa Giêsu rời khỏi ranh giới họ.
Khi Người xuống thuyền, kẻ trước kia bị quỷ ám xin theo Người.  Nhưng người không cho mà rằng: "Con hãy về nhà với thân quyến, và loan truyền cho họ biết những gì Thiên Chúa đã làm cho con và đã thương con". Người đó liền đi và bắt đầu tuyên xưng trong miền thập tỉnh, tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm cho anh ta, và mọi người đều thán phục.
Suy niệm:
A. Phân tích (Hạt giống...)
Các bài trích Phúc Âm từ Thứ Bảy tuần trước đến Thứ Ba tuần này lần lượt kể các phép lạ của Chúa Giêsu, mỗi phép lạ mặc khải một khía cạnh của mầu nhiệm Chúa Giêsu.
Phép lạ này mặc khải uy quyền Chúa Giêsu chiến thắng uy quyền ma quỷ.
- Người bị quỷ ám trong chuyện này là sào huyệt của tất cả quyền lực ma quỷ được tổng động viên. Hắn tự xưng “Tên tôi là cơ binh” (câu 9).
- Ảnh hưởng của việc bị quỷ khống chế:
a/ Mất tương giao hài hòa với đồng loại: “Người đó vẫn ở trong các mồ mả” (câu 3)
b/ Mất tự do đích thực: “gông cùm xiềng xích lại” (câu 4)
c/ Tự hại mình: “lấy đá rạch mình mẩy” (câu 5)
d/ Mất nhân phẩm: “kêu la” (câu 5), không ăn mặc đàng hoàng, muốn “nhập vào đàn heo” (câu 12).
- Kết quả khi được Chúa giải thoát:
a/ Nhân phẩm được trả lại: “ngồi đó, mặc quần áo và trí khôn tỉnh táo.” (câu 15)
b/ Gắn bó với Chúa: “xin theo Người” (câu 18)
c/ Hội nhập lại trong tương giao đồng loại: “hãy về nhà với thân quyến” (câu 19).
d/ Thành sứ giả của Phúc Âm: “Người đó liền đi và bắt đầu tuyên xưng trong miền thập tỉnh, tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm cho anh ta” (câu 20).
Thế nhưng dân làng xin Chúa Giêsu rời khỏi vùng đất của họ: vì tiếc của (đã bị chết chừng 2000 con heo), họ từ chối Đấng Messia!
B. Suy gẫm (... nẩy mầm)
1. Phản ứng của người bị quỷ khống chế là không muốn được giải thoát khỏi sự khống chế đó: Người bị quỷ ám này nói với Chúa Giêsu “Ông với tôi có liên hệ gì đâu... tôi van ông, xin chớ hành hạ tôi” (Mc 5,7). Chúa phải hành động mạnh “Hỡi thần ô uế, hãy ra khỏi người này” (Mc 5,8) - Khi ma quỷ khống chế ta, nó cũng xúi ta trốn tránh Chúa và không muốn được giải thoát. Xin cho con đừng mù quáng muốn ở lì mãi trong tội và trốn tránh những người thiện chí Chúa gởi đến cứu giúp con...
2. Chúa Giêsu phân biệt rất rõ: Ngài cương quyết tiêu diệt thế lực của ma quỷ, nhưng vẫn yêu thương và muốn giải thoát những kẻ bị ma quỷ khống chế.
3. Trong Thánh Kinh, heo là hình ảnh của ô uế và của thế lực gian tà. Làng Ghêrasa này đầy heo nhưng lại tiếc rẻ khi đàn heo ấy chết đuối. Họ lại còn xin Chúa Giêsu rời khỏi làng họ. Khi ta bám vào của cải vật chất thì ma quỷ cũng theo đó mà bám víu ta.
4. Có lần Napoleon cầm tấm bản đồ thế giới, chỉ vào nước Anh, tức tối nhận xét: “Nếu không có cái chấm đỏ này thì Ta đã là bá chủ thế giới.
Ma quỉ cũng chỉ vào thánh giá Đức Kitô nói: “Nếu không có chấm đỏ này thì ta đã bá chủ thế giới." (Góp nhặt)
5. Một thanh niên say rượu, đi ngang qua đám đông đang nghe giảng. Anh muốn tỏ ra “ta đây” và làm cho nhà giảng thuyết mất mặt chơi. “Chào, này ông ơi, về nhà đi thôi, đừng giảng nữa, ma quỉ chết hết rồi!” Vị giảng thuyết lạnh lùng nhìn anh nói: “Ma quỉ chết rồi à? Vậy là từ nay anh mồ côi rồi!” Chàng ta xấu hổ lủi mất, trong khi đám đông được trận cười khoái chí. (Góp nhặt)
6. Chúa Giêsu bảo kẻ trước kia đã bị quỷ ám rằng “Con hãy về nhà với thân quyến, và loan truyền cho họ biết những gì Thiên Chúa đã làm cho con và đã thương con” (Mc 5,19)
Sau khi được chữa lành, người trước kia đã bị quỷ ám nài xin Chúa cho được ở với Người. Nhưng Người đã không đồng ý và bảo anh trở về nhà loan truyền và làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa giữa những người thân yêu của mình.
Chúa Giêsu đã làm ơn cho anh nhưng không muốn giữ anh lại với Người để kẻ chịu ơn phải suốt đời đền ơn đáp nghĩa. Người chỉ muốn ơn ban chảy tràn đến mọi người, qua trung gian của những kẻ đã một lần được yêu thương và chữa lành.
Con đường dẫn ta đến với Chúa chẳng bao giờ là đường cùng hay ngõ cụt nhưng luôn dẫn ta đến với mọi người, trước hết là những người thân cận, rồi đến những người đáng thương hay đang cần được yêu thương và giúp đỡ.
Chúa ơi! Đường của con là Chúa. Tình yêu của con là Chúa. Và quê hương của con cũng là Chúa. (Epphata)
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Chúa là tấm bánh được bẻ ra cho con người. Chúa nuôi dưỡng hồn xác chúng con bằng sức sống thần linh của Chúa. Xin Mình máu Thánh Chúa bồi dưỡng tâm hồn và thân xác chúng con. Xin cho mỗi lần chúng con đón rước Chúa là một lần chúng con được đổi mới trong ân sủng và tình thương của Chúa.
Lạy Chúa Giêsu mến yêu, quỷ ám luôn là nỗi sợ của con người. Người bị quỷ ám dễ bị ma quỷ lấy đi nhân tính, nhân phẩm của chính mình. Xin Chúa canh chừng và bảo vệ hồn xác chúng con khỏi mối hiểm nguy của ba thù. Xin cho lòng trí chúng con luôn hướng về Chúa để tâm hồn chúng con luôn thanh sạch khỏi bợn nhơ tội lỗi.
Nhưng Chúa ơi, xin tha thứ cho những lần chúng con để tâm hồn mình cho ma quỷ chiếm giữ. Chúng con còn nuôi dưỡng trong lòng những ước muốn tầm thường, những tư tưởng lỗi đức trong sạch, những việc làm bất chính. Trong lòng chúng con còn chất chứa những ích kỷ, kiêu căng, những đam mê tội lỗi. Xin Chúa là Ðấng mà ai được đụng chạm đến cũng được thanh tẩy, được đổi mới. Xin Mình Thánh Chúa đổi mới chúng con trong ân sủng của Chúa, để linh hồn chúng con nên trong trắng vẹn tuyền. Amen.