Sợi chỉ đỏ :
Các ý tưởng trong các bài đọc hôm nay được triển khai dần dần để dẫn đến ý tưởng chính là "Hãy sám hối" :
- Vì yêu thương, Thiên Chúa đã chọn Môsê để bắt đầu công trình giải thoát họ qua cuộc xuất hành (Bài đọc I) ;
- Các kitô hữu cũng được dẫn dắt qua một cuộc Xuất hành như dân do
thái xưa. Tuy nhiên chúng ta đừng có thái độ như họ : chìu theo dục vọng
và luôn kêu ca trách móc Thiên Chúa (Bài đọc II) ;
- Thái độ phải có là sám hối (Bài Tin Mừng)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến
Lời Chúa hôm nay rất khẩn thiết : "Nếu các ngươi không sám hối, các
ngươi sẽ phải chết". Phụng vụ dành cho chúng ta một thời gian dài 40
ngày của Mùa Chay để chúng ta nhận thức tình trạng tội lỗi của mình mà
ăn năn sám hối. Đây đúng là lúc thuận tiện, đây đúng là thời cứu độ.
Chúng ta đừng phí phạm cơ hội Chúa ban, đừng làm ngơ trước lời kêu gọi
của Chúa.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúng con thiếu sót rất nhiều trong bổn phận kính mến và thờ phượng Chúa. Xin Chúa thương xót chúng con.
- Chúng con lỗi phạm rất nhiều trong tương quan với tha nhân. Xin Chúa thương xót chúng con.
- Chúng con còn làm nô lệ cho tiền bạc, của cải, tiện nghi. Xin Chúa thương xót chúng con.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (Xh 3,1-15)
Tuần vừa qua, chúng ta được kể về chặng thứ nhất trong Lịch sử cứu độ
: Thiên Chúa chọn Abraham để thành lập một dân mới. Tuần này chúng ta
được nghe kể tiếp chặng thứ hai : Thiên Chúa chọn Ông Môsê để giải
phóng dân ấy khỏi ách nô lệ Ai cập.
Lúc bấy giờ Môsê đang trốn trong sa mạc vì sợ Pharao lùng bắt. Ông
làm nghề chăn chiên. Một hôm đang khi Môsê chăn chiên thì Thiên Chúa
hiện ra với ông.
- Thiên Chúa hiện ra trong một bụi gai rực lửa nhưng bụi gai ấy không
bị cháy rụi : Thiên Chúa là Đấng rất hùng mạnh, nhưng sức mạnh của
Ngài không phải dể tiêu diệt mà để giải thoát.
- Thiên Chúa gọi đích danh Môsê : Ngài biết rõ từng người.
- Thiên Chúa nói với Môsê "Ta đã thấy rõ cảnh khổ của dân Ta… Ta xuống giải thoát chúng…" : Thiên Chúa là Đấng giải thoát.
- Khi Môsê hỏi Tên Thiên Chúa thì Ngài đáp bằng một câu nói bí ẩn "Ta
là điều Ta là". Có nhiều lối giải thích kiểu nói này : (1) Thiên Chúa
từ chối không nói tên mình, bởi vì không ai có thể hiểu được Thiên Chúa
; (2) Ta là thế nào thì các ngươi sẽ hiểu khi thấy các việc Ta sẽ làm
(sau này khi thấy Thiên Chúa giải thoát dân do thái : người ta se hiểu
Ngài là Đấng giải thoát) ; (3) Câu nói đó có thể dịch là "Ta là Đấng
hằng hữu" ; (4) Cũng có thể dịch là "Ta là Đấng là" : ngược với các thần
Ai cập chỉ là hư vô giả trả, chỉ có một mình Thiên Chúa là có thật.
Điều quan trọng nhất của tường thuật này là Thiên Chúa thương dân Ngài và muốn giải thoát họ khỏi cảnh khổ.
2. Đáp ca (Tv 102)
Thánh vịnh 102 triển khai ý chính của bài đọc I : ca tụng những công trình giải thoát của Thiên Chúa.
3. Tin Mừng (Lc 13,1-9)
Ý chính của đoạn Tin Mừng này là kêu gọi sám hối :
- cc 1-5 : người do thái thời Chúa Giêsu quen nghĩ "ác giả ác báo".
Trước hai tai nạn đột ngột làm chết nhiều người, họ kết luận ngay rằng
những nạn nhân ấy là "ác giả" cho nên bị "ác báo". Chúa Giêsu khuyên
đừng hồ đồ suy đoán về người khác những mỗi người hãy coi các tai nạn đó
là tiếng nhắc nhở hãy xét lại lương tâm mình để lo sám hối.
- cc 6-9 : Qua dụ ngôn cây vả không sinh trái, Chúa Giêsu bảo mỗi
người hãy tận dùng thời gian gia hạn mà Thiên Chúa đã ban cho mình để
sớm lo sám hối.
4. Bài đọc II (1 Cr 10,1-6.10-12)
Thánh Phaolô giải thích ý nghĩa các biến cố trong cuộc Xuất hành :
- Việc vượt qua Biển Đỏ là tượng trưng cho Phép Rửa.
- Tảng đá đã phun ra nước cho dân do thái uống tượng trưng cho Chúa Giêsu.
- Kitô hữu chúng ta cũng xuất hành như dân do thái xưa. Nhưng đừng
bắt chước họ chìu theo dục vọng xấu xa, đừng kêu ca trách móc, trái lại
ngoan ngoãn hành trình theo sự hướng dẫn của Thiên Chúa.
IV. GỢI Ý GIẢNG
1. Hãy ăn năn sám hối
Lời Chúa hôm nay kêu gọi chúng ta hãy ăn năn sám hối. Lời kêu gọi này
không chỉ nhắm đến những kẻ tội lỗi mà nhắm đến mọi người không trừ
ai. Thế nhưng có người sẽ thắc mắc : người tốt cũng cần phải sám hối
sao ?
Trong trường hợp những người được gọi là tốt, họ vẫn phải sám hối vì
những việc tốt lẽ ra họ có thể làm mà lại không làm. Họ giống như cây
vả trong bài Tin Mừng này. Ông chủ muốn đốn nó không phải vì nó đã sinh
ra những trái xấu, mà vì nó không sinh ra những trái vả như nó phải
sinh ra. Một cây vả mà không sinh trai vả thì đâu còn là cây vả nữa.
Các kitô hữu ít khi tự đặt cho mình câu hỏi này : Điều gì lẽ ra tôi
phải làm mà lại không làm ? Tiếng gọi sám hối không chỉ kêu gọi ta thôi
đừng làm điều xấu nữa, mà còn kêu gọi ta hãy "sinh trái" bằng những
việc tốt. Chính vì thế mà lời kêu gọi này nhắm đến mọi người. (FM)
2. Cơ hội thứ hai
Có một câu chuyện về một cây vĩ cầm như sau :
Cây vĩ cầm bị rạn nứt, người ta dán lại và đem ra bán đấu giá. Người
bán đấu giá nghĩ rằng chẳng nên phí thời giờ chăm chút nó làm gì. Nhưng
ông vẫn tươi cười cầm nó lên và rao bán :
- Thưa quí vị ai sẽ bắt đầu trả giá đầu tiên đây ?
Một đồng, rồi hai đồng. Chỉ có hai đồng thôi sao ? Ai sẽ trả nó ba đồng đây. Vâng, một người trả ba đồng. Không ai trả hơn sao ?
Bỗng từ cuối phòng, một người đàn ông tóc hoa râm bước lên cầm lấy
cây đàn, ông lau sạch bụi chiếc đàn cũ kỹ, rồi lên dây lại. Sau đó, ông
tấu lên một bản nhạc êm dịu, ngọt ngào, du dương như bài ca của các
thiên thần. Tiếng nhạc dừng lại, người bán đấu giá chậm rãi, hỏi :
- Tôi sẽ ra giá bao nhiêu cho chiếc vĩ cầm này đây ?
Đoạn ông vừa cầm đàn lên vừa nói :
- Một ngàn đồng, và ai sẽ tăng lên hai ngàn ? Hai ngàn rồi, có ai
chịu tăng lên ba ngàn không ? Một người chịu giá ba ngàn, còn nữa không ?
Đám đông hồ hởi reo vui, nhưng có vài người trong họ la lên :
- Chúng tôi hoàn toàn chẳng hiểu cái gì đã làm thay đổi giá trị cây vĩ cầm đó ?
Lập tức có tiếng đáp lại :
- Chính nhờ đôi tay người nghệ sĩ chạm vào đấy !
*
Đứng trước những biến cố đem lại tai hoạ và chết chóc cho con người,
Chúa Giêsu không bình luận theo quan điểm của người Do Thái thời đó :
Tin Mừng hôm nay kể lại việc quan tổng trấn Philalô tàn sát mấy người
Galilê và việc tháp Siloê đổ xuống đè chết 18 nạn nhân. Người Do Thái
cho rằng những người bị tai hoạ đó là do tội lỗi của chính họ, nên bị
Thiên Chúa giáng phạt. Còn những người khác thấy vẫn bình yên vô sự, thì
cho rằng mình vô tội, nên dễ tự hào về sự thánh thiện của mình. Chúa
Giêsu không nghĩ thế, Người không cho rằng những người bị nạn đó tội lỗi
hơn đồng hương của họ. Người muốn nhấn mạnh rằng mọi người đều là tội
nhân, đều bị Thiên Chúa phán xét, đều đáng chịu án phạt của Người, nên
cần phải ăn năn sám hối, để tránh hình phạt của Thiên Chúa.
Tính cấp bách phải sám hối ăn năn được Chúa Giêsu nói rõ trong dụ
ngôn cây vả : Thiên Chúa là người trồng cây, Chúa Giêsu là người làm
vườn, và dân Ítraen là cây vả không sinh trái. Thiên Chúa đã tuyển chọn
dân Ítraen làm dân riêng của Người, và ban cho nhiều đặc ân, nhưng họ
lại không sinh hoa kết trái, là trung thành với lề luật, sống công
chính, và phụng thờ một mình Người.
Thiên Chúa đã chấp thuận đề nghị của Chúa Giêsu, là cho họ một cơ hội
thứ hai, một thời gian để chăm bón thêm, với các lời giảng dạy của
Chúa Giêsu và các phép lạ kèm theo. Nhưng họ vẫn cố chấp, không hoán
cải để sinh hoa trái. Vì thế, họ đã bị Thiên Chúa loại bỏ : Điều đó đã
được chứng thực vào năm 7O sau Công Nguyên khi đền thánh Giêrusalem bị
tàn phá.
Thiên Chúa cũng đã tuyển chọn chúng ta trong kế hoạch nhiệm mầu của
Người và yêu thương chăm sóc chúng ta cách đặc biệt. Người chờ mong
chúng ta sinh ra hoa trái tốt tươi. Nhưng nếu chúng ta chưa thực hiện
được những mơ ước của Người, thì cũng như cây đàn vĩ cầm rạn nứt trong
câu chuyện trên đây, Người cũng cho chúng ta một cơ hội, là đôi tay kỳ
diệu của người nghệ sĩ đã chạm vào cây đàn, chính là Đức Glêsu, để chúng
ta tấu lên những khúc nhạc du dương, là bài ca của những tâm hồn biết
ăn năn, là hoa trái của những tấm lòng sám hối.
Chúng ta hãy cảm tạ tri ân Chúa Giêsu đã cho chúng ta cơ hội thứ hai
này, và tận dụng tối đa cơ may ấy để sinh nhiều hoa trái trong mùa Chay
thánh.
3. Kiên nhẫn
Cây vả được trồng 3 năm thì tới lúc có trái. Nếu đến khi đó mà nó vẫn
chưa có trái thì hầu như sẽ chẳng bao giờ có trái nữa. Đây là trường
hợp của cây vả trong bài Tin Mừng hôm nay. Bởi vậy ông chủ ra lệnh đốn
bỏ nó, để khỏi chật đất, để khỏi tốn công chăm sóc, để danh chỗ trồng
cây khác hữu ích hơn. Nhưng người làm vườn vẫn chưa nản lòng. Người này
vẫn còn hy vọng nơi cây vả, nên xin ông chủ cho thêm thời hạn một năm
nữa. Trong thời gian này ông sẽ tích cực bồi dưỡng và chăm sóc cho nó.
Sau đó nếu nó vẫn không trái thì mới bị chặt đi.
Dụ ngôn không cho ta biết kết quả cuối cùng thế nào. Nhưng bấy nhiêu
cũng đủ nói lên điều Chúa Giêsu muốn nói : cũng như người làm vườn kiên
nhẫn chờ đợi cây vả ra trái, Thiên Chúa luôn kiên nhẫn chờ đợi kẻ tội
lỗi ăn năn sám hối.
Lịch sử đầy dẫy những thí dụ về những người nhờ được người khác kiên
nhẫn cho thêm cơ hội nên về sau trở thành những vĩ nhân. (1) Ngay trong
bài đọc I hôm nay đã có một tấm gương : Môsê khi còn trẻ đã phạm tội
giết người. Chúa không phạt ông, mà còn sử dụng tính khí nhiệt tình của
ông để giải phóng dân do thái khỏi ách nô lệ Ai cập. (2) Einstein mãi
đến hai tuổi mới bắt đầu biết nói bập bẹ. Khi Einstein đến trường, các
giáo viên cũng ngã lòng vì sự chậm chạp của ông. Vậy mà Einstein đã trở
thành nhà bác học được đánh giá là nổi bật nhất của thế kỷ.
Có nhiều người phát triển rất chậm và muộn màng, nhưng lại là những
nhân tài. Những người như thế cần có ai đó tin tưởng họ, kiên nhẫn chờ
đợi họ và tạo cơ hội cho họ. Nếu không thì kho tàng tài năng của họ sẽ
bị vùi dập và mai một đi.
Chúng ta biết cho chính bản thân mình thêm cơ hội. Tại sao chúng ta không làm như thế đối với người khác ? (FM)
4. Đất thánh
Chúa phán với Môsê : "Nơi ngươi đang đứng là đất thánh".
Mọi nơi trên mặt đất này mà Chúa ban cho ta đều là đất thánh và đáng
được chúng ta kính trọng. Nhưng mảnh đất thánh thiện nhất nằm ngay
trong chúng ta.
Trước hết, thân xác chúng ta là thánh. Thân xác là thánh vì nó là
công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Thánh Phaolô còn đưa ra lý do thứ
hai : "Thân xác anh em là đền thờ của Chúa Thánh Thần". Vậy chúng ta
phải tôn trọng và chăm sóc thân xác chúng ta.
Tâm trí chúng ta cũng là thánh. Nhiều người hằng ngày cứ nhồi vào tâm
trí mình đủ thứ điều xấu xa từ tivi, radio, sách báo v.v. Chúng ta hãy
nghe lời Thánh Phaolô : "Anh em hãy đong đầy tâm trí những gì chân
thật, cao quý, những gì là chính trực, tinh tuyền, những gì là đáng mến
và đem lại danh thơm tiếng tốt những gì là đức hạnh đáng khen" (Pl
4,8)
Nhưng thánh nhất là tâm hồn chúng ta. Ngày nay người ta rất quan tâm
đến sự sạch sẽ bên ngoài nhưng lại quên đi sự sạch sẽ bên trong, tức là
sự sạch sẽ của tâm hồn. Từ tâm hồn sinh ra tư tưởng, lời nói, việc làm
như dòng nước phát sinh từ mạch nước. Nếu mạch nước mà sạch thì nước
chảy ra cũng sạch. Vậy chúng ta hãy giữ cho tâm hồn trong sạch và tinh
tuyền. Chúa Giêsu nói "Phúc cho những ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ
được nhìn thấy Chúa". (FM)
5. Tản mạn suy tư
a/ Trong bài đọc I kể chuyện
Chúa hiện ra với Môsê, điều đáng ngạc nhiên là Chúa không hiện ra cho
ông trong Đền thờ mà là trong sa mạc ; và Chúa hiện ra không phải khi
Môsê đang cầu nguyện mà trong lúc ông chăn cừu. Chúa hiện ra cho Môsê ở
một nơi phàm trần và trong một sinh hoạt phàm trần.
Ngày nay thế giới đã trở thành một nơi phàm trần. Thật khó mà giữ
được một ý thức thiêng thánh trong một thế giới như thế. Tuy nhiên, nếu
không có thiêng thánh và ý thức hướng thượng, thì cuộc đời sẽ nghèo nàn
và thấp hèn biết bao.
Trong cuộc gặp gỡ giữa Môsê với Thiên Chúa, cảm xúc lấn át nhất xem
ra là sợ hãi. Nhưng thực ra không phải thế. Khi Thánh Kinh nói về sự sợ
đối với Thiên Chúa thì không phải là sợ hãi mà là kính sợ. Sợ hãi là
một cảm xúc tiêu cực, nó khiến ta co rúm lại và muốn chạy trốn ; còn
kính sợ là một cảm xúc tích cực, nó khuyến khích ta tiến đến gần đối
tượng đang tác động lên mình, ta không cảm thấy bị hạ xuống, mà được
nâng lên.
Tín ngưỡng bắt đầu bằng cảm xúc kính sợ, kính sợ vì nhận biết sự cao
cả của Thiên Chúa và giới hạn thấp hèn của con người. Kính sợ đi trước,
và đức tin đến sau.
Mà kính sợ thì bắt đầu bằng sự ngỡ ngàng. Môsê đã ngỡ ngàng khi thấy bụi gai cháy rực mà không rụi tàn.
b/ Tuy nhiên rất dễ ngỡ ngàng
trước một sự kiện bất thường như thế. Ngay cả người khùng cũng biết ngỡ
ngàng trước sự bất thường. Còn người khôn thì biết ngỡ ngàng trước
những sự bình thường. Đây mới là vấn đề. Chúng ta ước ao được ngỡ ngàng
trước một phép lạ, nhưng chúng ta không ngỡ ngàng khi ngắm cảnh hoàng
hôn. Hầu hết chúng ta cảm thấy khó mà nhận ra nét cao cả và đáng ngỡ
ngàng nơi những sự việc bình thường trong cuộc sống ; chúng ta không
nhận ra những "phép lạ" vẫn diễn ra hằng ngày chung quanh chúng ta.
Tâm tình tôn thờ bắt nguồn từ ý thức về những phép lạ như thế. Kính
sợ và ngỡ ngàng có thể được khơi lên bởi những sự việc rất nhỏ bé, chẳng
hạn một hạt cát, một chiếc lá hay một giọt mưa.
Một đức tin cần được củng cố bằng phép lạ là một đức tin nghèo nàn.
Những ai đã gắn bó với Chúa thì không cần phép lạ nữa, vì họ đã ý thức
mình đang sống trong một thế giới được quyền năng Chúa bao bọc, họ nhìn
đâu cũng thấy Chúa.
Người nào có khả năng nuôi dưỡng đức tin của mình bằng những phép lạ đời thường thì giống như người đang ngồi nơi bàn tiệc.
c/ Dù Môsê đang đứng tại một nơi
phàm trần giữa hoang địa, nhưng Chúa bảo ông rằng đó là nơi thánh.
Điều gì đã khiến nơi đó thành nơi thánh ? Thưa chính là sự hiện diện
của Chúa. Nếu thế thì nhà thờ cũng là nơi thánh, vì có Chúa hiện diện
trong nhà thờ. (FM)
6. Tại sao Chúa chọn Môsê ?
Trích đoạn của bài đọc I không cho ta biết tại sao Chúa chọn Môsê.
Nhưng trước trích đoạn này có ba đoạn khác có thể giúp chúng ta trả lời
được câu hỏi này.
- Một lần kia Môsê thấy một người Ai cập hà hiếp một người do thái, ông chịu không được nên đã ra tay can thiệp.
- Một lần khác ông thấy hai người do thái đánh nhau, ông chịu không nổi nên cũng ra tay can thiệp.
- Và một lần nữa, ông thấy những người chăn chiên xứ Mađian ngăn cản
không cho các con gái của Ông Yêthro múc nước, ông không chịu nổi nên
lại ra tay can thiệp.
Cả ba chuyện trên đều cho thấy Môsê là người không thể khoanh tay
đứng nhìn trước cảnh bất công. Bởi thế khi Thiên Chúa "thấy cảnh khổ cực
của dân Ta… Ta xuống giải thoát chúng…" thì Ngài chọn Môsê.
7. Chuyện minh họa
a/ Ăn năn
Satan phàn nàn với Chúa : "Ngài không công bằng. Nhiều tội nhân làm
điều sai trái và Ngài lại đón nhận họ. Thật ra, có người trở lại sáu bảy
lần và Ngài vẫn nhận. Tôi chỉ phạm một lỗi lớn mà Ngài kết án tôi đời
đời. "Chúa nói : "Đã bao giờ ngươi xin tha thứ hoặc ăn năn chưa ?".
b/ Cơ hội cuối cùng
Sau khi đánh tan một cuộc nổi loạn, nhà vua bắt những kẻ phản loạn
về. Ông ra lệnh thắp lên một cây nến, rồi nói với họ : "Ai chịu đầu hàng
và thề trung thành với ta thì sẽ được tha, bằng không sẽ bị giết Các
ngươi hãy suy nghĩ. Khi cây nến tắt thì cuộc hành quyết sẽ bắt đầu".
Thiên Chúa cũng đối xử với tội nhân như vậy : Ngài cho họ một thời gian
gia hạn. Tuy nhiên có một khác biệt quan trọng : không ai biết cây nến
của đời mình còn dài hay ngắn. (Tonne).